Văn Phòng Luật Sư Phương Thảo
Văn Phòng Luật sư Phương Thảo
Văn Phòng Luật sư Phương Thảo

Luật doanh nghiệp

Xác định thuế nhà, đất trong trường hợp có tranh chấp về quyền sử dụng đất

Câu hỏi

Ông Côi ở xã A thuộc khu vực nông thôn có diện tích đất ở như sau: nhà xây trên diện tích 80m2; diện tích sân là 100m2; diện tích vườn 200 2; diện tích ngõ đi 40m2;diện tích bỏ trống không sử dụng 100m2 - phần diện tích này ông dự định cho người con lớn xây nhà ở riêng. Ngoài ra, ông còn có một phần diện tích 250m2 đất sử dụng để cho thuê làm nơi sản xuất bánh đa đang có tranh chấp với ông Trung là người có đất liền kề. Việc tranh chấp này đã diễn ra 03 năm nay. Hai bên đã gửi đơn lên cấp có thẩm quyền đề nghị giải quyết theo pháp luật, song hiện nay tranh chấp này vẫn chưa được giải quyết. Ông Côi có kiến nghị lên Uỷ ban nhân dân xã là phần đất đang có tranh chấp giữa ông và ông Trung thì phường tạm thời chưa thu thuế; khi nào xác định được người chủ hợp pháp theo luật thì người đó có trách nhiệm nộp thuế đất. Ngoài ra, ông cũng cho rằng, ông không phải nộp thuế đối với phần diện tích 100m2 bỏ trống không sử dụng. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường A phải giải quyết kiến nghị của ông Côi như thế nào?

Câu trả lời

Trong tình huống này, diện tích đất ở của ông Côi là thuộc địa bàn nông thôn, do đó theo quy định hướng dẫn về căn cứ tính thuế nhà, đất tại tiểu mục 3 Mục II Thông tư số 83/TC-TCT hướng dẫn thi hành Nghị định số 94-CP ngày 25/08/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất, thì ông Côi phải nộp thuế trên toàn bộ diện tích thực tế sử dụng, bao gồm cả diện tích đất bỏ trống. Đối với phần diện tích đang tranh chấp với ông Trung, thì mặc dù cơ quan có thẩm quyền chưa giải quyết tranh chấp này nhưng trên thực tế thì ông Côi đang là người sử dụng diện tích đó và hưởng lợi từ việc cho thuê làm xưởng sản xuất bánh đa. Do đó, ông Côi là người phải nộp thuế đất đối với phần diện tích đang tranh chấp này. Việc nộp thuế đất đối với phần diện tích đang tranh chấp không có nghĩa là ông Côi được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với phần đất đó. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã A hoặc người được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã A ủy quyền cần giải thích rõ quy định này để ông Côi biết và thực hiện đúng quy định này. Giải thích cho ông Côi rõ, diện tích phải nộp thuế đất của ông Côi như sau:
+ Diện tích xây nhà: 80m2
+ Diện tích sân: 100m2
+ Diện tích vườn: 200m2
+ Diện tích ngõ đi: 40m2
+ Diện tích bỏ trống không sử dụng: 100m2
+ Diện tích đất đang tranh chấp nhưng ông Côi là người sử
dụng vì đang thu tiền cho thuê: 250m2
Như vậy, tổng diện tích chịu thuế đất của ông Côi là: 80m2 + 100m2 + 100m2 + 40m2 + 100m2 + 250m2 = 670m2

 

Các văn bản liên quan:

Thông tư 83/TC-TCT Hướng dẫn thi hành Nghị định số 94-CP ngày 25-08-1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất